lớp Blog in 3D
Kiến thức

Filament 1.75 mm hay 2.85 mm? Dung sai đường kính và cách tự đo nhựa in 3D (2026)

lopin3d · xưởng in 3D lớp · 28/10/2026 · 7 phút đọc

Cuộn nhựa filament in 3D nhiều màu
Ảnh: Tonnerre Lombard / Wikimedia Commons, giấy phép CC BY 2.0
Tóm tắt nhanh
  • Máy in 3D để bàn phổ biến hiện nay gần như đều dùng 1.75 mm; 2.85 mm (hay gọi “3 mm”) chủ yếu ở một số dòng máy riêng.
  • Không đổi qua lại được nếu không thay phần cứng đường nhựa.
  • Dung sai ±0.05 mm trên sợi 1.75 mm làm lượng nhựa lệch tới ~5–6%; ±0.02 mm chỉ ~2%.
  • Tự kiểm tra: đo 10 điểm trên 2 m sợi, mỗi điểm đo 2 hướng vuông góc để xem độ méo.
Mục lục (6 phần)
  1. Hai chuẩn đường kính: 1.75 mm và 2.85 mm
  2. Dung sai đường kính là gì?
  3. Vì sao sai vài phần trăm milimét lại đáng kể?
  4. Cách tự đo cuộn nhựa bằng thước kẹp
  5. Dấu hiệu nhựa sai đường kính khi in
  6. Góc nhìn của lớp

Mua nhựa in 3D, thông số đầu tiên trên nhãn là đường kính: 1.75 mm hoặc 2.85 mm, kèm một con số nhỏ như ±0.02 mm. Con số nhỏ đó quyết định khá nhiều đến bề mặt vật in. Bài này giải thích hai chuẩn đường kính, dung sai là gì, vì sao vài phần trăm milimét lại đáng kể, và cách tự đo một cuộn nhựa trong 5 phút.

Hai chuẩn đường kính: 1.75 mm và 2.85 mm

Một máy được thiết kế cho đường kính nào thì chỉ dùng đường kính đó. Muốn đổi phải thay bánh răng đẩy, ống dẫn và đầu nóng, không đơn giản chỉ chỉnh trong phần mềm.

Nhãn cuộn nhựa luôn ghi đường kính danh định và dung sai.
Nhãn cuộn nhựa luôn ghi đường kính danh định và dung sai. · Ảnh: Tonnerre Lombard, CC BY 2.0, Wikimedia Commons

Dung sai đường kính là gì?

Dung sai là mức sai lệch tối đa so với đường kính ghi trên nhãn. Sợi 1.75 mm dung sai ±0.05 mm nghĩa là chỗ mảnh nhất có thể 1.70 mm, chỗ to nhất 1.80 mm. Phần lớn nhà sản xuất công bố khoảng ±0.05 mm; hàng chất lượng cao thường cam kết ±0.02–0.03 mm.

Vì sao sai vài phần trăm milimét lại đáng kể?

Phần mềm slicer tính lượng nhựa theo tiết diện sợi, mà tiết diện tỉ lệ với bình phương đường kính. Vì vậy sai số đường kính bị nhân lên gần gấp đôi khi thành sai số lưu lượng:

Ngoài dung sai còn có độ méo (ovality): sợi không tròn đều, đo hướng này 1.76 mm, xoay 90° lại 1.72 mm. Sợi méo vừa gây sai lưu lượng vừa dễ kẹt ở bánh đẩy.

Cách tự đo cuộn nhựa bằng thước kẹp

  1. Kéo khoảng 2 m sợi ra khỏi cuộn.
  2. Cứ mỗi 20 cm đo một lần, được khoảng 10 điểm.
  3. Ở mỗi điểm, đo thêm một lần sau khi xoay thước 90° để kiểm tra độ méo.
  4. Ghi lại số lớn nhất, nhỏ nhất, trung bình. Nếu tất cả nằm trong ±0.03 mm quanh 1.75 mm, cuộn nhựa đạt.
  5. Nếu trung bình lệch đều (ví dụ luôn 1.73 mm), nhập đường kính thực vào slicer hoặc hiệu chỉnh flow.

Thước kẹp điện tử loại thường có độ phân giải 0.01 mm là đủ dùng. Nhớ lau sạch mỏ thước và không bóp quá mạnh làm sợi biến dạng.

Dấu hiệu nhựa sai đường kính khi in

Góc nhìn của lớp

Ở xưởng, lớp chỉ dùng nhựa 1.75 mm vì toàn bộ máy đều theo chuẩn này. Kinh nghiệm thực tế của chúng tôi: dung sai ghi trên nhãn quan trọng, nhưng độ đồng đều suốt cả cuộn còn quan trọng hơn. Một cuộn ±0.03 mm nhưng ổn định từ đầu đến cuối dễ in hơn một cuộn quảng cáo ±0.02 mm mà thỉnh thoảng có đoạn phình.

Với món đồ nhỏ như móc khoá, sai lệch vài phần trăm gần như không thấy. Với vật cần bề mặt mịn, thành mỏng hoặc chi tiết lắp ghép, cuộn nhựa tốt giúp giảm in lại. Khi nhận cuộn mới, chúng tôi đo nhanh vài điểm trước khi đưa vào sản xuất đơn lớn. Bước này mất 5 phút nhưng tránh được việc phát hiện lỗi sau 10 giờ máy chạy.

Chúng tôi cũng không khuyên chạy theo con số dung sai thấp nhất bằng mọi giá. Với phần lớn người in tại nhà, nhựa từ hãng có công bố thông số rõ ràng, bảo quản khô, và một lần hiệu chỉnh flow là đủ cho kết quả ổn định. Nhựa ẩm gây lỗi nhiều hơn nhựa lệch 0.02 mm.

Xem thêm so sánh nhựa PLA, PETG, ABS, TPU. Cần nhựa in 3D 1.75 mm đã kiểm tra? Xem vật tư in 3D của lopin3d, hoặc đặt in 3D theo yêu cầu nếu bạn chưa có máy.

Nguồn tham khảo

Đọc tiếp về in 3D